dị ứng

Dị ứng: Kiến Thức Y Khoa Chuyên Sâu về Phác Đồ Điều Trị

Bệnh dị ứng do nhiều nguyên nhân khác nhau và có xu hướng ngày càng gia tăng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cũng như tính mạng của người bệnh. Hiện nay, trên thế giới có khoảng 30% dân số gặp các vấn đề liên quan đến dị ứng.

1. Dịch tễ

Tỉ lệ dị ứng ở các nước phát triển tăng nhanh chóng so với các nước đang phát triển.

Ở các nước phát triển, khoảng 20% người bị ảnh hưởng bởi viêm mũi dị ứng, khoảng 6% người bị ít nhất một lần dị ứng thực phẩm và khoảng 20% người bị viêm da dị ứng.

Tùy vào quốc gia, khoảng 18% người bị hen suyễn, 2% người bị sốc phản vệ.

2. Định nghĩa

Theo wikipedia, dị ứng là một rối loạn quá mẫn của hệ miễn dịch. Phản ứng dị ứng xảy ra để chống lại các chất vô hại trong môi trường (được gọi là chất gây dị ứng), các phản ứng này xảy ra nhanh chóng và có thể dự đoán được.

Thực tế, dị ứng là một trong bốn hình thức của chứng quá mẫn cảm. Nó kích hoạt quá mức các tế bào bạch cầu lympho B và kháng thể IgE, dẫn đến một phản ứng viêm nặng thông thường bao gồm chàm, phát ban, sốt, lên cơn hen suyễn, ngộ độc thức ăn, viêm da tiếp xúc và phản ứng với nọc độc của côn trùng chích như ong, muỗi, kiến…

Dị ứng nhẹ rất phổ biến, gây ra các triệu chứng như viêm kết mạc dị ứng, ngứa và chảy nước mũi. Ở một số người, dị ứng nặng với các chất gây dị ứng trong môi trường, thức ăn hoặc một số loại thuốc y dược có thể gây phản ứng phản vệ (sốc phản vệ) đe dọa đến tính mạng.

3. Nguyên nhân gây dị ứng

Nguyên nhân chủ yếu bao gồm di truyền, giới tính, chủng tộc, và độ tuổi, trong đó yếu tố di truyền được xem là nguyên nhân chủ yếu gây nên dị ứng. Tuy nhiên, thời gian gần đây tỷ lệ mắc các rối loạn dị ứng mà không thể được giải thích bằng yếu tố di truyền đang có chiều hướng gia tăng là do bốn thay đổi chính trong môi trường sống hiện nay: tiếp xúc với các bệnh truyền nhiễm trong thời thơ ấu, ô nhiễm môi trường, các loại chất gây dị ứng, và chế độ ăn uống thay đổi.

4. Các loại dị ứng thường gặp

Dị ứng đường hô hấp

  • Viêm mũi dị ứng: Đây là dị ứng đường hô hấp phổ biến nhất do hít phải không khí chứa chất gây dị ứng, thường theo mùa. Triệu chứng: hắt hơi, sổ mũi, ngạt mũi, chảy nước mũi, đau mũi và vùng xung quanh.
  • Viêm mũi thai kì: Có thể có triệu chứng như trên do hormone được tiết ra trong thai kỳ có thể gây sưng ở niêm mạc mũi. Lượng máu lưu thông cao hơn trong thai kỳ (40% so với mức của phụ nữ không mang thai) cũng có thể làm tắc nghẽn đường mũi.
  • Hen suyễn: Gây tức ngực, thở khò khè/ho thường vào rạng sáng. Các triệu chứng thường liên quan  đến cảm lạnh, nhiễm trùng đường hô hấp trên khác hoặc do thời tiết lạnh, khô hay tiếp xúc với các chất gây dị ứng.

Dị ứng da

  • Viêm da tiếp xúc: đặc trưng bởi phát ban, ngứa, phổ biến ở người lớn do tiếp xúc với chất tự nhiên như lông động vật… hoặc hàng được sản xuất như sữa tắm…gây dị ứng.
  • Viêm da dị ứng hoặc bệnh chàm: Trẻ em có tiền sử gia đình bị dị ứng dễ bị bệnh chàm. Bệnh chàm chủ yếu do da rất khô, phát ban có hình dạng điển hình, ngứa và có thể là cấp tính hoặc mãn tính. Phát ban cấp tính có màu đỏ, sưng và có thể chảy ra; phát ban mãn tính dày và màu tối hơn da bình thường. Phát ban thường bắt đầu ở giai đoạn trứng nước và thay đổi sự phân bố khi trẻ phát triển.
  • Nổi mề đay: là những vết sưng lớn màu đỏ trên da do phản ứng miễn dịch toàn thân đối với các yếu tố như thực phẩm, phấn hoa, vẩy da động vật, thuốc, côn trùng cắn, cảm lạnh, nóng, ánh sáng hoặc căng thẳng cảm xúc. Mày đay mãn tính xảy ra khi phát ban kéo dài hàng tháng đến hàng năm, biểu hiện bằng một hoặc nhiều vết sưng khác nhau về kích thước và hình dạng. Mày đay thường xuất hiện ở cánh tay, chân và thân.

Dị ứng thực phẩm

Bất kì loại thực phẩm nào cũng có thể gây ra phản ứng dị ứng, nhưng nguyên nhân phổ biến nhất là protein trong sữa bò, lòng trắng trứng, đậu phộng, lúa mì và đậu nành.

Các nguyên nhân ít phổ biến khác bao gồm trái cây, động vật có vỏ, đậu, một số chất bảo quản và chất tạo màu.

Một phản ứng dị ứng với thực phẩm thường xảy ra trong vòng năm phút đến khoảng nửa giờ sau khi ăn.

Dị ứng thuốc

Các loại thuốc có thể kích hoạt phản ứng dị ứng bao gồm:

  • Kháng sinh
  • Aspirin và các thuốc giảm đau khác
  • Thuốc iãn cơ bắp và thuốc gây mê dùng chung
  • Gây tê tại chỗ
  • Thuốc nhuộm được tiêm vào máu cho mục đích X-quang
  • Barbiturat  
  • Thuốc chống co giật

Dị ứng côn trùng

Dị ứng do vết đốt của côn trùng có chứa chất gây dị ứng. Côn trùng gây dị ứng chích phổ biến như ong, kiến, muỗi,…

5. Chẩn đoán

Trước khi chẩn đoán bệnh nhân bị dị ứng, cần loại trừ các triệu chứng có thể do các nguyên nhân khác. Khi chẩn đoán các bệnh hen suyễn, viêm mũi, sốc phản vệ, hoặc các dị ứng khác, một số phương pháp được sử dụng để xác định tác nhân gây bệnh

  • Kiểm tra phản ứng trên da (Skin Testing)

Để đánh giá sự hiện diện của chất gây dị ứng, thử nghiệm dị ứng trên da được ưu tiên hơn các xét nghiệm dị ứng trong máu vì nó nhạy, đặc hiệu hơn, thao tác đơn giản, và ít tốn kém.

Một lượng nhỏ hoặc dịch chiết của các chất gây dị ứng bị nghi ngờ như phấn hoa, cỏ, đậu phộng,…được tiêm vào da hoặc dùng 1 miếng kim loại hay nhựa có chứa chất gây dị ứng đâm nhẹ vào các ô nhỏ trên da, các ô này đã được đánh dấu bằng bút mực màu (loại mực dùng cho bút nên được lựa chọn cẩn thận, vì nó cũng có thể gây ra một phản ứng dị ứng riêng). Nếu bệnh nhân bị dị ứng với chất nào trong những chất thử thì phản ứng viêm có thể nhìn thấy (da ửng đỏ) sẽ xuất hiện trong vòng 30 phút đến một giờ sau.

Xét nghiệm da có thể không được lựa chọn nếu bệnh nhân bị bệnh da lan rộng, hoặc đã dùng thuốc kháng histamine trong vài ngày qua.

  • Xét nghiệm máu

Các phương pháp xét nghiệm máu cũng được dùng để phát hiện chất gây dị ứng cụ thể. Loại phương pháp này thử nghiệm đo nồng độ kháng thể IgE có trong huyết thanh của bệnh nhân bằng phương pháp phóng xạ miễn dịch và phép đo màu. Xét nghiệm phóng xạ bao gồm các thử nghiệm như phương pháp xét nghiệm hấp thụ phóng xạ Rast, trong đó sử dụng các đồng vị phóng xạ, có khả năng gắn với kháng thể IgE để để đo kháng thể IgE trong máu. Các phương pháp khác được sử dụng như xét nghiệm miễn dịch hấp thụ liên quan đến enzyme (ELISA, EIA), xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang (FEIA).

  • Thử nghiệm khác

Challenge testing: một lượng nhỏ chất gây dị ứng nghi ngờ được đưa vào cơ thể bằng miệng, qua đường hô hấp hoặc qua các tuyến khác có sự theo dõi của bác sĩ. Không sử dụng thử nghiệm dị ứng với thực phẩm và thuốc

Elimination/challenge tests: Phương pháp thử nghiệm này được sử dụng thường xuyên nhất với thực phẩm hoặc thuốc. Một bệnh nhân bị dị ứng nghi ngờ được hướng dẫn sửa đổi chế độ ăn uống của mình để tránh hoàn toàn chất gây dị ứng đó trong một thời gian định sẵn. Nếu bệnh nhân có sự cải thiện đáng kể, sau đó anh ta có thể bị “th bằng cách giới thiệu lại chất gây dị ứng, để xem liệu các triệu chứng có được tái tạo hay không.

6. Điều trị

Điều trị và phòng bệnh dị ứng chỉ đơn giản là tránh hoặc giảm tiếp xúc với các chất gây dị ứng. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân bị dị ứng với phấn hoa hoặc các chất trong không khí thì việc tránh tiếp xúc này rất khó thực hiện. Trong trường hợp này có thể sử dụng thuốc hoặc liệu pháp miễn dịch.

  • Liệu pháp dùng thuốc

Một số thuốc đối kháng được sử dụng để ngăn chặn dị ứng, hoặc tránh kích hoạt các tế bào và các quá trình gây dị ứng. Chúng bao gồm thuốc kháng histamine, glucocorticoids, epinephrine (adrenaline), theophylline và natri cromolyn.

  • Liệu pháp miễn dịch

Bệnh nhân được tiêm các chất gây dị ứng với liều tăng dần. Điều này có thể làm giảm mức độ nghiêm trọng hoặc loại bỏ hoàn toàn phản ứng quá mẫn. Liệu pháp này làm lệch tiến độ sản xuất kháng thể IgG, từ đó ngăn chặn sản xuất quá mức IgE. Các nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả lâu dài và hiệu quả phòng ngừa của liệu pháp miễn dịch trong việc làm giảm sự phát triển của dị ứng mới.

Một hình thức thứ hai của liệu pháp miễn dịch liên quan đến tiêm tĩnh mạch các kháng thể kháng IgE (Anti-IgE) đơn dòng. Các kháng thể này sẽ gắn kết với các kháng thể IgE tự do hoặc IgE đã liên kết với tế bào B. Tuy nhiên, kháng thể kháng IgE sẽ không gắn kết với các IgE đã liên kết với thụ thể Fc trên basophils và các tế bào mast, vì điều này sẽ kích thích các phản ứng dị ứng.

Một dạng thứ ba là miễn dịch dưới lưỡi, là một liệu pháp đường miệng, lợi dụng sự miễn dịch yếu đối với các kháng nguyên không gây bệnh như các loại thực phẩm và vi khuẩn thường trú. Liệu pháp này hiện đang chiếm 40% các trị liệu dị ứng ở châu Âu.

Leave a Reply